Năng lượng tái tạo giúp gần 3 triệu người có việc làm

Cũng theo kết quả nghiên cứu này, nếu châu Âu đạt được mục tiêu và vượt qua lượng tiêu thụ năng lượng tái tạo là 20% trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 thì 2,8 triệu việc làm sẽ có thể được tạo ra và thậm chí có thể sinh ra giá trị thặng dư thêm khoảng 1,1% GDP.

Phát biểu với giới báo chí, ông Andris Piebalgs, ủy viên châu Âu phụ trách về năng lượng cho biết: “Đây là các bằng chứng cho thấy rằng các lợi ích của năng lượng tái tạo ở mức độ an ninh dự trữ và đấu tranh chống thay đổi khí hậu có thể cùng sánh vai với các tiến bộ kinh tế”.

Tuy vậy, cũng cần phải chỉ rõ rằng định hướng kinh tế “xanh” sẽ góp phần tạo ra nhiều việc làm hơn trong lĩnh vực công nghiệp. Nếu chúng ta tính đến yếu tố này thì sẽ có thể tạo thêm được 410.000 việc làm.

Nghiên cứu khẳng định các chính phủ thành viên của EU phải tăng cường đầu tư hơn nữa vào việc phát triển nguồn năng lượng phi quang điện, năng lượng mặt trời và nhiên liệu sinh học để mục tiêu sử dụng 20% các nguồn năng lượng tái tạo có thể được chấp nhận. Trong đó, phát triển các kỹ thuật, công nghệ là việc làm không thể thiếu nếu EU “giữ vững vị trí cạnh tranh hiện tại trên thị trường quốc tế”.

Đăng tải tại Tin tức Năng lượng | Để lại phản hồi

Hơn 300 triệu USD phát triển năng lượng tái tạo

Mục tiêu của dự án là cung cấp điện năng trên cơ sở thương mại cho lưới điện quốc gia từ nguồn năng lượng tái tạo một cách bền vững về mặt xã hội và môi trường.

Tổng vốn đầu tư của dự án là 318 triệu USD. Trong đó, vốn vay là 202 triệu USD, vốn tài trợ của Chính phủ Úc 2,3 triệu USD. Vốn đối ứng trong nước 113,7 triệu USD

Dự án Năng lượng Tái tạo bao gồm ba phần. Phần đầu tiên là đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo thông qua các ngân hàng thương mại (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín, và Ngân hàng Cổ phần Ngoại thương Việt Nam).

Sau đó, các đơn vị này sẽ cho các dự án năng lượng tái tạo của các nhà đầu tư tư nhân với công suất nhỏ hơn 30MW, đủ điều kiện, vay lại.

Phần thứ hai và ba nhằm giúp tạo ra khuôn khổ pháp lý và nâng cao năng lực cho Bộ Công Thương và các cơ quan có liên quan, cũng như phát triển các dự án năng lượng tái tạo khác trong tương lai.

Dự án được triển khai trên phạm vi toàn quốc trong thời gian từ 2009 – 2013.

Đăng tải tại Tin tức Năng lượng | Để lại phản hồi

Năng lượng tái tạo, tiềm năng chưa được đánh thức

(VietNamNet) – Việt Nam có tiềm năng lớn về nguồn năng lượng tái tạo song cho tới nay nguồn này chỉ chiếm 1% tổng công suất điện cả nước ( chừng 12.000MW). Phát triển mạnh năng lượng tái tạo sẽ góp phần đa dạng hoá nguồn điện, đảm bảo an ninh năng lượng trong tương lai, nhận định của PGS.TS Nguyễn Tiến Nguyên, chuyên viên cao cấp Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường (Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam).

Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang hối hả phát triển, ứng dụng nguồn năng lượng tái tạo, chẳng hạn như Trung Quốc, Đức và Nhật Bản. Nguyên nhân chính là năng lượng truyền thống (than, dầu, khí…) sắp cạn kiệt, nguồn cung cấp biến động về giá cả, chịu ảnh hưởng của chính trị và việc sử dụng chúng làm phát thải khí nhà kính, gây hiệu ứng nóng lên toàn cầu. Tuy nhiên, theo TS Nguyên, Việt Nam vẫn chưa có chiến lược tổng thể về vấn đề này và hiện Bộ Công nghiệp mới đang soạn thảo chính sách phát triển năng lượng tái tạo để trình Chính phủ. Dự kiến, Việt Nam sẽ phấn đấu để tỷ lệ năng lượng tái tạo chiếm khoảng 3% tổng công suất điện năng tới năm 2010 và 6% vào năm 2030. Tỷ lệ này thấp hơn so với Thái Lan (8-9% tới năm 2020).

Thuỷ điện nhỏ và phong điện

Các đề tài nghiên cứu đang được tiến hành cho thấy Việt Nam có thể phát triển mạnh nguồn năng lượng tái tạo, đó là thuỷ điện nhỏ, gió, mặt trời và sinh khối (biomass). Từ lâu, thuỷ điện nhỏ đã được sử dụng ở Việt Nam nhằm giải quyết nhu cầu năng lượng ở quy mô gia đình và cộng đồng nhỏ, chủ yếu là vùng trung du miền núi. Thuỷ điện nhỏ có sức cạnh tranh so với các nguồn năng lượng khác do điện từ đó có giá thành cạnh tranh, trung bình khoảng 4 cent (600 đồng)/KWh. Ước tính Việt Nam có khoảng 480 trạm thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp đặt là 300MW, phục vụ hơn 1 triệu người tại 20 tỉnh. Trong số 113 trạm thuỷ điện nhỏ, công suất từ 100KW-10MW, chỉ còn 44 trạm đang hoạt động. Con số 300MW quả là quá nhỏ bé so với tiềm năng của thuỷ điện nhỏ ở Việt Nam là 2.000MW, tương đương với công suất của nhà máy thuỷ điện Hoà Bình.

Một loại năng lượng tái tạo nữa là gió. Theo thống kê của ngành điện, sản lượng điện năng sản xuất từ sức gió hiện nay trên thế giới tăng liên tục, năm 1994 là 3.527,5MW; năm 1997 là 7.500MW và hiện nay là trên 10.000MW… Sử dụng nguồn điện bằng sức gió không lo hết nhiên liệu hay cạn kiệt nguồn nước như thủy điện và nhiệt điện, đặc biệt là không gây những tác động đáng kể đến môi trường. Mặc dù Việt Nam không có nhiều tiềm năng gió như các nước châu Âu song so với Đông Nam Á thì lại có tiềm năng tốt nhất. Đáng tiếc là cho tới nay phong điện ở Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có.

Một số cột gió phát điện. 

TS Nguyên cho biết tiềm năng xây dựng phong điện ở Việt Nam từ nay tới năm 2030 là 400 MW. Muốn phát triển phong điện, cần phải đo tốc độ gió cụ thể tại các vùng miền. Cho tới nay, Việt Nam đã xây dựng xong và đang vận hành một cột gió phát điện công suất 850 KW ở Bạch Long Vĩ.  Ngoài ra, Trung tâm năng lượng tái tạo và thiết bị nhiệt (RECTARE), ĐH Bách Khoa TP Hồ Chí Minh đã lắp đặt trên 800 cột gió ở hơn 40 tỉnh thành, tập trung nhiều nhất gần Nha Trang (135 cột đang hoạt động). Nha Trang cũng là nơi có một trong hai làng gió duy nhất ở Việt Nam. Việc xây dựng các cột gió ở làng này do Bộ Khoa học và công nghệ cùng với Hiệp hội Việt Nam-Thuỵ Sĩ tài trợ. Ngôi làng gió thứ hai nằm ở Cần Giờ nơi 50 cột gió đã được lắp đặt thông qua sự hỗ trợ của Pháp. Tuy nhiên, đa số các cột gió nói trên có công suất thấp, chỉ sử dụng cho hộ gia đình và ít thành công do không được bảo dưỡng.

Hiện còn có dự án xây dựng 20 cột gió với tổng công suất 15MW tại khu bờ biển bán đảo Phương Mai, Thành phố Quy Nhơn và một phần huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Viện Năng lượng đang chuẩn bị nghiên cứu khả thi xây dựng các trang trại gió quy mô lớn, một trong số đó là trang trại 20 MW ở Khánh Hoà. Tổng công ty điện lực Việt Nam dự định tài trợ để xây dựng một trang trại nữa với công suất 20 MW, cũng ở Khánh Hoà. Giá phong điện hiện ở vào khoảng 7-8cent (800 đồng/kWh).

Sinh khối và mặt trời

Ngoài phong điện, tiềm năng sinh khối trong phát triển năng lượng bền vững ở Việt Nam cũng khá lớn. Lợi thế to lớn của sinh khối so với các nguồn năng lượng tái tạo khác như năng lượng gió và mặt trời là có thể dự trữ và sử dụng khi cần, đồng thời luôn ổn định, tình hình cấp điện không bị thất thường. Nguồn sinh khối chủ yếu ở Việt Nam là trấu, bã mía, sắn, ngô, quả có dầu, gỗ, phân động vật, rác sinh học đô thị và phụ phẩm nông nghiệp. Theo nghiên cứu của Bộ Công nghiệp, tiềm năng sinh khối từ mía, bã mía là 200-250MW trong khí chấu có tiềm năng tối đa là 100MW. Hiện cả nước có khoảng 43 nhà máy mía đường trong đó 33 nhà máy sử dụng hệ thống đồng phát nhiệt điện bằng bã mía với tổng công suất lắp đặt 130MW. Tuy nhiên, nếu thừa điện thì các nhà máy này cũng không bán được.

Ngoại trừ mía đường, các nguồn sinh khối khác vẫn chưa được khai thác để sản xuất điện. Một số nhà đầu tư nước ngoài đã chuẩn bị các nghiên cứu khả thi về sử dụng rác sinh học đô thị để sản xuất điện, mặc dù vậy chưa có một nhà máy sinh khối thương mại nào ở Việt Nam. Chính phủ đang đàm phán với các nhà đầu tư Anh, Mỹ để ký một hợp đồng BOT trị giá 106 triệu đôla để xây dựng một nhà máy sinh khối tại TP Hồ Chí Minh. Dự án này sẽ xây dựng một nhà máy xử lý 1.500-3.000 tấn rác mỗi ngày, sản xuất 15MW điện và 480.000 tấn NPK/năm.

Nguồn khí sinh học (biogas) từ bãi rác chôn lấp, phân động vật, phụ phẩm nông nghiệp hiện mới chỉ được ứng dụng trong đun nấu. Lý do đây là nguồn phân tán, khó sản xuất điện. Ước tính cả nước có chừng 35.000 hầm khí biogas phục vụ đun nấu gia đình với sản lượng 500-1.000m3 khí/năm cho mỗi hầm. Tiềm năng lý thuyết của biogas ở Việt Nam là khoảng 10 tỷ m3/năm (1m3 khí tương đương 0,5 kg dầu). Hiện tại đang có một số thử nghiệm dùng biogas để phát điện. Theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường, nếu mỗi ngày chạy 1 máy phát (công suất 1-2kw) trong thời gian 2 tiếng thì cần phải nuôi 20 con lợn. Giá thành của khí sinh học ở vào khoảng 6cent/kwh, tương đương 800 đồng.

Một nhà máy năng lượng sinh học. 

Còn về điện mặt trời, Việt Nam đã phát triển nguồn năng lượng này từ những năm 1960 song cho tới nay vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi. Theo đánh giá của các chuyên gia thì hiệu quả nhất của năng lượng mặt trời là đun nước nóng. TS Nguyên cho rằng nên phát động phong trào sử dụng loại hình năng lượng này ở thành phố nhằm tiết kiệm điện. Bức xạ nắng mặt trời sau khi đi qua tấm kính có thể đun nóng nước tới 80 độ C và nước được nối qua bình nóng lạnh để tắm rửa hoặc đun nấu. Với một bể 500l nước nóng/ngày, một hộ gia đình cần đầu tư 3 triệu đồng để mua thiết bị  và 3 năm sẽ thu hồi được vốn. Pin mặt trời hiện chỉ được dùng ở vùng sâu vùng xa, phục vụ sinh hoạt, thông tin và liên lạc tàu bè.

Việt Nam hiện có trên 100 trạm quan trắc toàn quốc để theo dõi dữ liệu về năng lượng mặt trời. Tính trung bình toàn quốc thì năng lượng bức xạ mặt trời là 4-5kWh/m2 mỗi ngày. Tiềm năng điện mặt trời là tốt nhất ở các vùng từ Thừa Thiên Huế trở vào miền Nam và vùng Tây Bắc. Vùng Đông Bắc trong đó có Đồng bằng sông Hồng có tiềm năng kém nhất. Do giá thành còn cao (60cent hay 8000 đồng cho 1kWh) nên điện mặt trời chưa được dùng rộng rãi. Hiện mới chỉ có 5 hệ thống điện mặt trời lớn, trong đó có hệ thống ở Gia Lai, với tổng công suất 100kWp (công suất cực đại khi có độ nắng cực đại). Chính phủ cũng đã đầu tư để xây dựng 100 hệ thống điện mặt trời gia đinh và 200 hệ thống điện mặt trời cộng đồng cho cư dân ở các vùng đảo Đông Bắc với tổng công suất là 25kWp. 400 hệ thống pin mặt trời gia đình nữa do Mỹ tài trợ đã được xây dựng cho các cộng đồng ở Tiền Giang và Trà Vinh với tổng công suất 14kWp.

 

Đăng tải tại Tin tức Năng lượng | Để lại phản hồi

Năng lượng tái tạo nào cho Việt Nam?

Các nguồn năng lượng sẵn có tại Việt Nam, có thể thay thế cho các nguồn năng lượng hóa thạch như dầu lửa, khí đốt và than đá. Chúng ta đã biết tận dụng chưa?

Các loại năng lượng tái tạo

Ngày 12/6, tại Viện Goeth, Hà Nội, nhà khoa học Roman Ritter sẽ chủ trì hội thảo “Các khả năng phát triển năng lượng tái tạo ở Đông Nam Á”.

Hội thảo sẽ đem lại một cách nhìn mới về chiến lược năng lượng cho Việt Nam.

Ở Việt Nam, số lượng ô tô ngày càng tăng. Và mỗi khi mùa hè đến, để chống lại sức nóng của nó, người ta lại phải tiêu thụ thêm rất nhiều điện năng cho các máy điều hòa.

Cứ mỗi lần mất điện, người ta lại cảm nhận được thực tế của cuộc khủng hoảng năng lượng – một cuộc khủng hoảng có quy mô toàn cầu.

Trong những năm tới, Việt Nam sẽ phải đối diện triệt để với vấn đề này và phải tìm ra các giải pháp giải quyết nếu vẫn muốn giữ được tốc độ tăng trưởng cao như hai thập niên vừa qua.

Ông Roman Ritter là một nhà khoa học với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á, ông là người rất am hiểu các điều kiện sinh thái nhiệt đới.

Trong bài phát biểu của mình, ông sẽ lưu ý về các khả năng và cơ hội sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, vốn rất ít được đề cập đến ở Việt Nam như: năng lượng sinh khối, năng lượng gió, địa nhiệt, ánh sáng và nhiệt lượng mặt trời.

Năng lượng tái tạo cũng có thể là một lựa chọn tốt cho tương lai thay vì năng lượng nguyên tử, vốn rất tốn kém khi xây dựng và có nguy cơ mang lại những hậu quả không thể lường trước.

Đăng tải tại Chưa được phân loại | Để lại phản hồi

Năng lượng tái tạo: Tương lai xanh của nhân loại

Nói một cách công bằng, những đề án phát triển các nguồn nhiên liệu không phải là “dầu mỏ” hiện cũng không quá hấp dẫn. Tuy nhiên, lịch sử đã cho thấy, cảm giác không mấy hấp dẫn đó có thể chỉ là bề ngoài.

Khi những mỏ dầu đầu tiên được phát hiện ra ở Mỹ năm 1860, đã có không ít người đương thời coi đó là thứ hoàn toàn vô dụng. Bởi lẽ, khi ấy dầu mỏ đắt hơn than đá rất nhiều và trước khi người ta sáng chế ra động cơ đốt trong, đã chỉ có rất ít cách sử dụng nó.

Thậm chí ngay cả khi dầu hỏa, được tách ra từ dầu mỏ, được dùng để làm nguồn nhiên liệu chiếu sáng mới, ở cuối thế kỷ XIX cũng ít ai có thể hình dung ra rằng, tới một ngày nào đó, dầu mỏ trở thành thứ “vàng đen” chính yếu của nền kinh tế thế giới.

Theo website Wasprofile, đang có ít nhất 43 quốc gia bắt tay vào thực hiện kế hoạch chuyển sang dùng những nguồn năng lượng khác dầu mỏ (năng lượng tái tạo). Tất cả các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) có đề án chuyển sang sử dụng “nhiên liệu sạch”.

Ngoài ra, chương trình tương tự đã được lập ra ở 18 bang của Mỹ (cộng thêm khu vực Liên bang Columbia, đơn vị hành chính đặc biệt bao gồm cả thủ đô Washington) và ba tỉnh của Canada.

Và chương trình tương tự không chỉ có ở các nước công nghiệp phát triển mà còn ở cả Trung Quốc, Brazil, CH Dominica, Ai Cập, Ấn Độ, Mali, Malaysia, Philippines, Nam Phi và Thái Lan…

Tính trung bình, các nước muốn thoát khỏi sự lệ thuộc vào dầu mỏ, khí đốt và than đá dự tính tới năm 2010 sẽ nhận được từ 5% tới 30% lượng điện năng nhờ sử dụng thủy điện, năng lượng mặt trời, gió, các chất sinh học… Những quốc gia có kế hoạch giàu tham vọng nhất  theo hướng này là Áo (dự tính tới năm 2010 sẽ đáp ứng khoảng 78% nhu cầu về nhiên liệu của mình nhờ các nguồn năng lượng tái tạo), Thụy Điển (60%) và Latvia (49,3%).

Trung tâm nghiên cứu Worldwatch Institute đã đi tới kết luận rằng, cho tới cuối năm 2007, trên thế giới đã đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo một lượng tiền kỷ lục: hơn 100  tỉ USD. Cũng trong năm 2007, trên thế giới đã sản xuất được khoảng 240 gigaoát “điện xanh”, nhiều hơn 50% so với năm 2004. Hiện nay, lượng “điện xanh” được sản xuất nhờ sử dụng các nguồn dự trữ tái tạo (không kể các nhà máy thủy điện) chiếm khoảng 5% tổng sản lượng điện thế giới.

Nguồn “điện xanh” dồi dào nhất hiện nay là gió. Năm 2007, tổng sản lượng điện sản xuất từ gió trên thế giới đã tăng 28% so với năm 2006 và đạt mức 95 gigaoát. Lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh hơn cả là năng lượng mặt trời: năm 2007, tỉ lệ tăng trưởng của lĩnh vực này là 50% và đạt 7,7 gigaoát.

Hiện nay, nguồn điện mặt trời cung cấp năng lượng cho chiếu sáng, sưởi ấm và các nhu cầu nhiêu liệu khác của khoảng 50 triệu căn nhà trên thế giới. Năm 2007 đã sản xuất 53 tỉ lít nhiên liệu sinh học (cồn và diezel sinh học), tăng 43% so với năm 2005.

Năm 2007, các nhà đầu tư quan tâm hơn cả tới năng lượng gió và mặt trời: hai lĩnh vực này chiếm 47% và 30% tổng số tiền đầu tư. Năm 2006, tại các nhà máy “năng lượng xanh” có tới hơn 2,4 triệu người làm việc.

Hiện nay, tại không dưới 60 quốc gia có các chương trình nhà nước nhằm gia tăng sản xuất năng lượng tái tạo. 48 quốc gia sử dụng chính sách cung cấp các ưu đãi khác nhau cho công nghiệp sản xuất “năng lượng sạch”, tức là bằng cách đó khuyến khích sự từ chối nguồn năng lượng điện hạt nhân và hyđrôcácbon.

19 quốc gia khuyến khích sử dụng năng lượng điện mặt trời để sưởi ấm nhà và cung cấp nước nóng. Nước giữ vai trò vô địch trong việc đưa vào sử dụng các dụng cụ sưởi ấm bằng năng lượng mặt trời là Trung Quốc.

Ba quốc gia và ít nhất là 20 tỉnh, bang riêng sẽ có chính sách khuyến khích năng lượng sinh học (etanol và diezel sinh học để làm thay xăng ôtô). Theo dự đoán của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), “nhiên liệu sinh học sẽ có đóng góp đáng kể vào việc thỏa mãn nhu cầu năng lượng trong giao thông vận tải bằng xe hơi. Năm 2030, nguồn nhiên liệu này sẽ đáp ứng 7% nhu cầu nhiên liệu xe hơi (hiện nay, tỉ lệ này là 1%).

Những nước tiêu thụ và sản xuất chính yếu nguồn nhiên liệu sinh học sẽ vẫn là Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Brazil. Dự đoán, etanol sẽ là thành phần chính tạo nên sự gia tăng sử dụng nhiên liệu sinh học vì chi phí sản xuất của nó sẽ ngày càng giảm nhanh hơn so với chi phí sản xuất diezel sinh học. Nhu cầu ngày một tăng của lương thực là một yếu tố hạn chế sản xuất nhiên liệu sinh học. Hiện nay, để sản xuất nhiên liệu sinh học trên thế giới đang sử dụng gần 14 triệu ha hay 1% diện tích ruộng canh tác.

Tới năm  2030, tỉ lệ này sẽ tăng tới 2 – 3,5%, tức là diện tích đất đai cần để cung cấp nhiên liệu cho các loại xe hơi chạy bằng cồn vào năm 2030 sẽ lớn hơn tổng diện tích của hai nước Pháp và Tây Ban Nha cộng lại. Những công nghệ mới trong lĩnh vực sản xuất nhiên liệu sinh học, cụ thể là sản xuất etanol từ lignoxenluloza sẽ giúp giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, để các công nghệ này có sức hút thương mại, cần phải giải quyết những vấn đề kỹ thuật không đơn giản”.

Các tính toán của Đại học bang Utah ở Mỹ cho thấy, nếu Hoa Kỳ thay hết xăng bằng cồn thì để sản xuất ra lượng etanol cần dùng sẽ phải sử dụng tới 75% diện tích đất đai nông nghiệp đang tồn tại trên thế giới.

Năm 2007, tổ chức sinh thái Sierra Club công bố một bản báo cáo mà trong đó kêu gọi chính phủ các nước trên thế giới chỉ ủng hộ những dự án sản xuất nhiên liệu sinh học không có sử dụng các cây lương thực mà chỉ là đồ thải từ công nghiệp sản xuất giấy gỗ và công nghiệp thực phẩm.

Một công trình nghiên cứu của Đại học Yale cho thấy, việc từ chối dần dà sử dụng các nguồn nhiên liệu hyđrôcácbon truyền thống và giảm sự phát xạ có thể tác động tích cực đến nền kinh tế thế giới. Nếu giảm được 40% các chất thải từ việc này trong vòng 20 năm tới thì có thể biến điều đó thành nguyên nhân dẫn tới tăng trưởng phát triển kinh tế.

Kết luận này đã được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu 25 mô hình kinh tế. Tác giả của công trình nghiên cứu trên xuất phát từ quan điểm, giá dầu mỏ và khí đốt cao tất yếu dẫn tới việc sử dụng rộng rãi các nguồn nhiên liệu tái tạo và sẽ bắt buộc người tiêu dùng tiết kiệm nhiên liệu.

Một trong những kết quả của việc trên sẽ là sự chậm lại của quá trình ấm lên toàn cầu và sự cải thiện môi trường sinh thái. Kết quả khác sẽ là cơn bốc lên của nền kinh tế gắn với việc chuyển công nghiệp năng lượng thế giới theo hướng tương lai xanh.

Theo số liệu của công trình nghiên cứu trên, trong những thập niên gần đây, tốc độ phát triển của nền kinh tế Mỹ ở mức khoảng 3% mỗi năm. Nếu quá trình cải cách năng lượng sẽ đi theo kịch bản bi quan thì tốc độ phát triển của nền kinh tế Mỹ sẽ bị tụt xuống chỉ còn khoảng 2,4% mỗi năm. Còn nếu mọi việc đi theo hướng lạc quan thì tốc độ phát triển kinh tế của Mỹ sẽ vẫn giữ được ở mức 3% trong tương lai.

 

Đăng tải tại Tin tức Năng lượng | Để lại phản hồi